04/02/2019 10:04:33 AM

MỘT MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TRI THỨC PHÙ HỢP TRONG TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NƯỚC TA TRONG KỶ NGUYÊN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

(Lượt xem: 513)

MỘT MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TRI THỨC PHÙ HỢP TRONG TÁI CƠ CẤU DOANH NGHIỆP NƯỚC TA TRONG KỶ NGUYÊN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

TS. Nguyễn Khắc Hùng[1]

 

1.1 Kinh tế tri thức trong kỷ nguyên CMCN 4.0

Lao động sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ bao giờ cũng phải dựa vào tri thức, chỉ khác nhau ở mức độ nhiều hay ít[2]. Kinh tế nông nghiệp, khởi đầu cách đây khoảng mười ngàn năm, phải dựa nhiều vào hiểu biết về canh tác, chăn nuôi, thời tiết... tức là những tri thức cơ bản về nông nghiệp. Nhưng lúc đó đất đai, lao động thủ công lại quan trọng hơn, nên tri thức chỉ đóng vai trò thứ yếu. Đến khoảng giữa thế kỷ XVIII, kinh tế công nghiệp cơ giới xuất hiện và phát triển mạnh, dựa vào các tri thức cơ học cổ điển để chế tạo ra máy móc cơ khí phục vụ sản xuất. Nhưng để hình thành được thị trường hàng hóa của kinh tế công nghiệp cổ điển thì tài nguyên và vốn (tư bản) lại quan trọng hơn nên tri thức cơ học cổ điển cũng chỉ có vai trò thứ yếu.

Đến khoảng giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cổ điển hết tiềm năng phát triển và bắt đầu suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, chiến tranh hủy diệt đe dọa thường xuyên... Trong bối cảnh đó cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại xuất hiện và phát triển bùng nổ, dựa trên những khối tri thức khổng lồ, rất mới và vô cùng phong phú về thế giới vật chất cả vĩ mô và vi mô, với thuyết tương đối và thuyết lượng tử. Lực lượng sản xuất mới được hình thành dựa trên nguồn lực chủ yếu là tri thức, tạo nên hệ thống công nghệ cao với máy móc thông minh mà điển hình là máy tính điện tử (máy điện toán) mô phỏng não người và tự động hóa sản xuất.

Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới này đã dẫn tới một hình thái kinh tế mới. Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri thức, sự lan truyền và quảng bá nhanh tri thức đưa vào ứng dụng là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, tạo ra của cải, tạo ra việc làm cho tất cả các ngành kinh tế. Nhà kinh tế học P. F. Druker gọi đó là nền kinh tế tri thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử dụng chính thức của Ngân hàng thế giới và nhiều quốc gia, trong đó có Việt nam. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức với tài nguyên con người là mục tiêu và động lực chính. Các nguồn lực nguyên liệu, tài nguyên khác và vốn dù quan trọng vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.

Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức từ cuối thế kỷ thứ 20 đặt ra những thách thức mới cho các tổ chức, doanh nghiệp và các nhà quản trị. Các công ty chịu sức ép phải không ngừng đổi mới, sáng tạo trong sản phẩm, dịch vụ và quy trình sản xuất kinh doanh để có thể tồn tại và phát triển trên thị trường. Các nhà quản trị phải suy nghĩ cách thức quản lý mới, bởi quản lý bằng mệnh lệnh và sự kiểm soát chặt chẽ người lao động trong quy trình sản xuất đã không còn phù hợp trong môi trường sáng tạo năng động. Khi tri thức trở nên quan trọng hơn vốn, lao động và tài nguyên trong việc cấu thành giá trị kinh tế, người ta nghĩ tới đối tượng trọng tâm mới của hoạt động quản trị, đó là tri thức. Có thể cho rằng tri thức và công nghệ là hai yếu tố quan trọng nhất trong CMCN 4.0 hiện nay. Khi chúng ta phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, Internet, mạng viễn thông kỹ thuật số, sử dụng dữ liệu lớn hay in 3D, điện thoại thông minh..., tức là phát triển một số bộ phận của kinh tế tri thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại hóa, ở trình độ cao, nhiều lĩnh vực của công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, kinh doanh và dịch vụ.

Tựu trung, có 4 tác động chính mà cuộc CMCN 4.0 mang lại đối với doanh nghiệp, đó là những tác động đối với sự mong đợi của người tiêu dùng, gia tăng sản xuất, đối với sự sáng tạo và với các hình thức tổ chức.

Sự dịch chuyển tất yếu từ số hóa đơn giản (cuộc CMCN lần thứ Ba) sang sự sáng tạo dựa trên sự kết hợp giữa các công nghệ (cuộc CMCN lần thứ Tư) đang buộc các doanh nghiệp phải xem xét lại cách thức hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy, các lãnh đạo và giám đốc điều hành doanh nghiệp cần nắm chắc sự thay đổi môi trường, thử thách nhận định của các bộ phận và không ngừng sáng tạo.

Thời gian tới để Việt Nam nắm bắt được cơ hội, vượt qua thách thức tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 thì cần thiết thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần xây dựng một nhận thức chung trong toàn xã hội đối với những thay đổi nhanh chóng do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang tới. Sự chủ động và sẵn sàng là một điều quan trọng, góp phần “tăng tốc” nhanh lúc ban đầu của một quốc gia. Cần đưa những cơ hội và thách thách thức liên quan đến Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào như là một nội dung bắt buộc của việc phân tích bối cảnh tác động để điều chỉnh những thông số của các kế hoạch phát triển trung và dài hạn, đặc biệt là chương trình đầu tư hạ tầng lớn, trước hết là internet, thông tin, truyền thông…

Rà soát và đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng của nền kinh tế theo hướng đón đầu, lựa chọn và đi thẳng vào khai thác sử dụng những tiến bộ, thành tựu công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Coi khoa học công nghệ là một trong yếu tố dẫn dắt quá trình tái cơ cấu kinh tế. Thu hút đầu tư gắn liền với nhiệm vụ thu hút ứng dụng tiến bộ, thành tựu công nghệ của thế giới.

Thứ hai, cần tăng cường nâng cao nhận thức của các cơ quan hoạch định chính sách cũng như lãnh đạo chiến lược trong khu vực doanh nghiệp (nhất là đối với các doanh nghiệp trong ngành năng lượng, khai thác tài nguyên, công nghiệp chế tạo do các ngành này có khả năng chịu nhiều tác động) và khu vực ngân hàng về Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để giúp điều chỉnh kế hoạch kinh doanh và đầu tư nhằm tránh các khoản đầu tư sai, qua đó giúp ngăn ngừa các khoản nợ xấu phát sinh trong tương lai.

Đổi mới thể chế, hoàn thiện môi trường pháp lý có tính đến tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trước hết nhanh chóng hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển thị trường khoa học công nghệ theo hướng hội nhập, xây dựng môi trường pháp lý cho phát triển các ngành nghề kinh doanh mới ở Việt Nam đang bắt đầu nảy sinh từ cuộc cách mạng công nghiệp này. Nhà nước cần tạo điều kiện thật thuận lợi về môi trường cho các doanh nghiệp được tiếp cận, tham gia và ứng dụng các công nghệ tiên tiến.

Các cấp, ngành cần nhanh chóng rà soát, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hành động để sẵn sàng các điều kiện và thực hiện ngay từ bây giờ việc hội nhập, hợp tác, chủ động đón nhận, đưa Việt Nam vào nhóm nước đang phát triển đi đầu trong tham gia, thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đổi mới tư duy, bộ máy và phương thức quản lý điều hành, hoạch định cơ chế chính sách phù hợp với sự thay đổi có tính cách mạng về công cụ, công nghệ sản xuất và quản lý. Đặc biệt là yêu cầu về xử lý tổng hợp khối lượng thông tin lớn, phản ứng nhanh nhạy với các tình huống và tính minh bạch trong quản lý, ra quyết định.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế kinh tế thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo ra môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, bảo vệ sở hữu trí tuệ, khuyến khích tinh thần doanh nghiệp, tạo động lực cho mọi thành phần kinh tế không ngừng đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp dựa trên đổi mới sáng tạo. Ngoài ra, cần nâng cao kỷ luật hành chính, kỷ luật hoạt động và đạo đức kinh doanh của nhân viên các cấp để thực thi hiệu quả chính sách đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo gắn với tri thức ở doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu. Chiến lược đổi mới sáng tạo ở tầm quốc gia cần lựa chọn đầu tư có chọn lọc và mạnh mẽ nguồn lực cả từ nhà nước và xã hội vào một số ngành/lĩnh vực cốt lõi của Cách mạng công nghiệp 4.0, đồng thời tranh thủ sự cộng tác từ quốc tế. Trong ngắn hạn có thể tập trung vào cải tiến công nghệ sẵn có nhằm tăng năng suất, giá trị gia tăng của sản phẩm một cách nhanh chóng, từ đó tạo nguồn lực và động lực cho những hoạt động nghiên cứu và phát triển quy mô hơn. Bên cạnh đó, cần xây dựng mối liên kết với các doanh nghiệp - viện/trung tâm nghiên cứu theo đơn đặt hàng từ doanh nghiệp. Phát triển thị trường vốn cho nghiên cứu và phát triển theo hướng gia tăng vai trò của nguồn vốn đầu tư mạo hiểm từ các tổ chức trong và ngoài nước

 

  Thứ năm, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nhằm xây dựng nguồn nhân lực có kỹ năng và sáng tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học theo hướng đào tạo theo yêu cầu của doanh nghiệp, xã hội, gắn lý thuyết với thực hành, đẩy mạnh sự hợp tác giữa trường đại học - doanh nghiệp, chú trọng xây dựng cho sinh viên khả năng và tinh thần sáng tạo. Trong đào tạo nghề, nâng cao kỹ năng của người lao động gắn với yêu cầu thực tế của doanh nghiệp, thực hiện đào tạo và đào tạo lại trong công việc.

Thứ sáu, phát triển mạnh mẽ hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông hoàn chỉnh, hiện đại, an toàn bằng nguồn lực của nhà nước cũng như xã hội hóa. Đồng thời, đào tạo nguồn nhân lực về công nghệ thông tin và truyền thông có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nền công nghiệp thế hệ thứ tư. Thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, sản xuất, kinh doanh, quản lý hành chính, triển khai sâu rộng các ứng dụng của chính phủ điện tử. Có chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông thành ngành kinh tế trọng điểm, nâng cao giá trị các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông, xem đây là trụ cột của nền công nghiệp thế hệ thứ tư.

1.2 Lựa chọn mô hình quản trị tri thức

Ý tưởng tri thức nên được quản lý bắt đầu phổ biến từ giữa thập niên 90 của thế kỷ 20 sau các công trình nghiên cứu của Thomas Steward về vốn tri thức (1991, 1994), Ikujiro Nonaka về kiến tạo tri thức (1991, 1995) và Thomas Davenport về quản trị tri thức (1997). Sau hơn hai thập kỷ, quản trị tri thức đã trở thành một lĩnh vực trưởng thành ở cả khía cạnh nghiên cứu và thực tế. Về nghiên cứu, cho đến nay đã có khoảng hơn 40 tạp chí khoa học quốc tế về quản trị tri thức; bên cạnh đó là rất nhiều các hội nghị khoa học quốc tế được tổ chức hàng năm và các sách, bài nghiên cứu được xuất bản. Hơn 60 trường đại học thuộc nhiều quốc gia, đặc biệt là Mỹ và Anh, đã mở thêm chuyên ngành quản trị tri thức bên cạnh các chuyên ngành quản trị kinh doanh truyền thống để đào tạo lớp người quản lý mới, thích ứng với môi trường mới. Trong thực tế quản lý DN, quản trị tri thức đã và đang được ứng dụng một cách nghiêm túc, đặc biệt ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước Châu Âu. Với vị thế ngày càng tăng của tri thức trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong tương lai quản trị tri thức có lẽ sẽ là trung tâm của quản trị học.

1.2.1 Trở lại khái niệm quản trị tri thức

Các nghiên cứu về quản trị tri thức rất đa dạng về cách tiếp cận, lý luận và các mô hình kết quả. Cách hiểu về quản trị tri thức cũng đã rất khác nhau giữa các tác giả. Hlupic, Pouloudi và Rzevski (2002) liệt kê và bàn luận về các định nghĩa khác nhau của quản trị tri thức. Ở đây chỉ đề cập tới một số khái niệm cơ bản nhất được tác giả coi là đại diện được cho các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này.

Theo De Jarnet (1996) quản trị tri thức là hoạt động kiến tạo tri thức, và việc này được nối tiếp với việc truyền bá và sử dụng tri thức, sự duy trì (lưu giữ, bảo tồn) và chắt lọc tri thức. Quintas và ctg. (1997) định nghĩa quản trị tri thức là quá trình quản lý tri thức, một mặt nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại, mặt khác nhằm xác định và khai thác các tài sản tri thức đã có để tạo ra những cơ hội hoạt động và kinh doanh mới. Quản trị tri thức đối với Brooking (1997) là hoạt động liên quan tới chiến lược và các chiến thuật quản lý tài sản trung tâm của con người. Trong khi đó Huysman và de Wit (2000) lại định nghĩa quản trị tri thức là các hoạt động hỗ trợ chia sẻ tri thức.

Từ bốn khái niệm căn bản trình bày ở trên có thể thấy quản trị tri thức có nhiều khía cạnh khác nhau và các nhà nghiên cứu thường chỉ chú trọng một hoặc một vài khía cạnh nhất định. Nếu De Jarnet (1996) coi việc tạo mới tri thức là cái đích cuối cùng quan trọng nhất của quản trị tri thức thì Quintas et al. (1997) lại cho rằng chính việc sắp xếp lại các tài sản tri thức, làm sao cho tri thức tới được với nơi cần trong tổ chức, hỗ trợ các hoạt động tổ chức đạt mục tiêu mới là hoạt động quản trị tri thức. Trong khi hai định nghĩa này không giải thích tri thức là gì thì hai định nghĩa sau lại đưa ra những ngụ ý rõ ràng về tri thức. Đối với Brooking (1997) tri thức nằm trong con người, do vậy việc quản trị tri thức đưa về quản trị nguồn nhân lực. Còn nghiên cứu của Huysman và de Wit (2000) lại ngụ ý rằng tri thức là cái tồn tại độc lập tương đối với con người. Vì vậy, quản trị tri thức trong DN, tổ chức là làm sao chia sẻ được tri thức cho các mục tiêu, hoạt động.

Tựu chung lại, có thể hiểu một cách đơn giản nhất quản trị tri thức là hoạt động thu nhận, kiến tạo, truyền bá và sử dụng tri thức cho các mục đích xác định của tổ chức, DN. Nội hàm này được thể hiện sâu sắc trong mô hình QTTT dưới đây.

1.2.2 Mô hình kiến tạo tri thức SECI của Nonaka – Takeuchi

Một trong những mô hình quản trị tri thức xuất hiện khá sớm và có tầm ảnh hưởng lớn trong nghiên cứu cũng như thực tế quản lý của các doanh nghiệp là mô hình kiến tạo tri thức SECI (viết tắt các chữ cái đầu của vòng chuyển đổi các dạng tri thức sẽ trình bày phía dưới) của Ikujiro Nonaka và Hirotaka Takeuchi. Mô hình được trình bày trong cuốn “Công ty kiến tạo tri thức” (“The knowledge creating company”) xuất bản năm 1995, sau đó được phát triển thêm nhiều qua các bài báo nghiên cứu. Hai tác giả xây dựng mô hình SECI dựa trên nghiên cứu nhiều năm tại các công ty Nhật Bản, vì vậy mô hình có nhiều yếu tố riêng có của Nhật Bản cho dù điều này không ảnh hưởng quá nhiều tới ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn của mô hình.

Mô hình SECI của Nonaka và Takeuchi có ba nội dung chủ yếu: Định nghĩa về tri thức; Mô hình chuyển đổi các dạng tri thức theo hình xoắn ốc; Lý luận về môi trường thúc đẩy Ba. Ba nội dung này gắn kết logic với nhau một cách chặt chẽ.

Bảng 1: Đặc tính của tri thức theo mô hình SECI

 

1.2.3 Tri thức theo kiến giải của Nonaka và Takeuchi

Đối với những người nghiên cứu quản trị tri thức, cái khó nhất là trả lời được câu hỏi “Tri thức là gì?” do tri thức phi vật chất và rất trừu tượng. Việc hiểu bản chất của tri thức đòi hỏi các học giả quay trở về với gốc gác triết học. Trong cuốn sách của mình, Nonaka và Takeuchi trình bày, so sánh thế giới quan, văn hóa, lối tư duy của người Nhật Bản với người Tây Âu. Hai ông cũng dẫn nhiều tới tác phẩm “Tri thức tiềm ẩn” của Polanyi (1962). Theo hai ông tri thức có thể được hiểu bằng cách phân tích nó theo hai góc độ: hình thức và cấp tồn tại.

Về mặt hình thức, tri thức gồm hai dạng: (1) tri thức hiện (explicit knowledge) và (2) tri thức ẩn (tacit knowledge). Tri thức hiện là tri thức có thể diễn tả, tái hiện và truyền đạt được. Đó là tri thức phản ánh nhận thức khách quan ở dạng lý thuyết. Chẳng hạn tri thức trong sách vở, tri thức được giảng dạy ở nhà trường… Tri thức ẩn là tri thức rất khó có thể diễn tả đầy đủ bằng lời nói, hành động. Do không diễn tả được, tri thức ẩn không rõ ràng, thậm chí chính người sở hữu tri thức ẩn còn không nhận thức rõ ràng về tri thức ấy. Tri thức ẩn mang tính chủ quan gắn liền với chủ thể tri thức, là sản phẩm của quan sát kinh nghiệm và hành động thực hành. Nói cách khác, tri thức ẩn không thể qua truyền đạt mà giống tri thức hiện. Muốn có tri thức ẩn, chủ thể tri thức phải tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành tri thức. Chẳng hạn một người biết đi xe đạp, nhưng anh ta khó có thể giải thích làm thế nào để đi xe đạp – và đó chính là tri thức ẩn của anh ta. Dĩ nhiên, anh ta có thể giải thích quá trình đi xe đạp qua một số quy tắc, chẳng hạn, mắt nhìn thẳng, giữ cân bằng… hoặc sâu hơn nếu anh ta nghiên cứu, anh ta có thể giải thích việc đi xe đạp bằng sự phối hợp các cơ chân tay và cơ thể. Tuy nhiên mọi giải thích đều không hoàn chỉnh. Một người thứ hai không vì nghe anh ta giải thích mà có thể biết đi xe đạp. Người thứ hai này muốn có tri thức “biết đi xe đạp”, nhất quyết anh ta phải tự mình luyện tập một thời gian.

Khi quản trị tri thức mới ra đời, các học giả bàn nhiều tới tri thức hiện, coi tri thức là tri thức hiện. Đó là quan điểm xuất phát từ cách tiếp cận của các nước Tây Âu. Tri thức hiện dễ dàng diễn tả và vì vậy có thể tách rời người mang tri thức. Theo cách hiểu đó, DN thực hiện quản trị tri thức giống như “cỗ máy” xử lý thông tin. Quản trị tri thức là làm sao để tập hợp thông tin, xử lý, phân loại. sắp xếp thông tin, truyền dẫn thông tin tới nơi cần để phục vụ cho công việc. Trung tâm của hệ thống quản trị này là các hệ điều hành và không gian mạng kết nối các trung tâm thông tin với nhau và với người sử dụng. Theo Nonaka và Takeuchi, quan điểm về tri thức này quá đơn giản. Theo hai học giả này, phần tri thức thể hiện được chỉ là phần nổi của tảng băng. Chính phần chìm của tảng băng, phần không nhìn thấy được, tức là tri thức ẩn mới là phần quan trọng hơn vì đó sẽ là nguồn để khai phá và để tạo ra giá trị trong tương lai. Hai bộ phận tri thức này không tách rời nhau và không tách rời với chủ thể mang nó. Nói cách khác, theo Nonaka và Takeuchi, DN sẽ giống như một thực thể sống và mang tri thức theo cùng tất cả các hoạt động kinh doanh của mình. Qua quá trình hoạt động, trải nghiệm trên thị trường, tri thức của DN sẽ tích lũy và lớn lên. Việc quản trị tri thức nhằm giúp quá trình này nhanh hơn và hiệu quả hơn.

Một điều quan trọng nữa trong cách hiểu về tri thức của Nonaka và Takeuchi là hai dạng tri thức hiện và tri thức ẩn có thể chuyển đổi qua lại với nhau. Cụ thể hơn, tri thức ẩn, qua một số hoạt động nhất định có thể được “hiện” lên, trở thành tri thức hiện. Ngược lại, việc tương tác với tri thức hiện của các chủ thể sẽ giúp các chủ thể này tiếp thu và kiến tạo tri thức ẩn thêm cho mình.

Về cấp độ tồn tại, tri thức xuất phát từ tri thức cá nhân, nhưng cũng tồn tại ở các cấp độ cao hơn như cấp độ nhóm, cấp độ DN, tổ chức và cấp độ liên DN hay liên tổ chức. Các học giả phương Tây vẫn coi tri thức là tri thức cá nhân. Vì vậy, khái niệm quản trị tri thức trong nhiều trường hợp dẫn về quản trị nguồn nhân lực – tức là các chủ thể mang tri thức. Các khái niệm tri thức của nhóm, tổ chức hay liên tổ chức mới chỉ được nói tới sau này, tuy vẫn còn nhiều tranh cãi. Với Nonaka và Takeuchi, nhóm hay tổ chức, DN đều có đời sống riêng, khác với đời sống của các thành viên của nó. Một hay nhiều thành viên có thể tách khỏi tổ chức, nhưng tổ chức vẫn tồn tại. Và các hoạt động của các nhóm, tổ chức, DN, với tư cách là hoạt động của một thực thể duy nhất là các hoạt động tri thức, mang tri thức và tạo tri thức.

1.2.4 Mô hình chuyển đổi các dạng tri thức theo hình xoắn ốc

Theo Nonaka và Takeuchi, quá trình tạo tri thức trong DN là một quá trình tương tác và chuyển đổi liên tục giữa tri thức hiện và tri thức ẩn. Quá trình này xảy ra lần lượt ở các cấp độ khác nhau của tri thức, từ cá nhân, nhóm, tổ chức cho tới liên tổ chức. Quá trình chuyển đổi liên tục này tạo thành vòng xoắn ốc tri thức mở rộng, tương ứng với năng lực ngày càng cao của tổ chức, DN.

Hình dưới đây biểu diễn sự xoắn ốc mở rộng của việc kiến tạo tri thức trong DN với bốn giai đoạn tuần tự. Giai đoạn 1 – Xã hội hóa (Socialization), giai đoạn 2 – Ngoại hiện (Externalization), giai đoạn 3 – Kết hợp (Combination), giai đoạn 4 – Tiếp thu/Nội hóa (Internalization).

Giai đoạn xã hội hóa được đặc trưng bởi tương tác tri thức ở cấp độ cá nhân. Trong giai đoạn này, tri thức ẩn của cá nhân này chuyển thành tri thức ẩn của cá nhân khác và ngược lại. Cụ thể các cá nhân tiếp xúc, trao đổi với nhau trực tiếp, chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, qua đó trao đổi, chia sẻ tri thức. Trong giai đoạn này, tri thưc ẩn được trao đổi, tiếp nhân thông qua hành động và nhận thức. Ví dụ, trong công việc, một người bán hàng giỏi chia sẻ cách thức tìm kiếm khách hàng thành công và thuyết phục khách hàng cho đồng nghiệp. Các hoạt động tiếp xúc có thể chính thức như trao đổi công việc theo mục đích nhất định. Tuy vậy, các hoạt động tiếp xúc cũng có thể không chính thức và không có mục đích thật rõ ràng, chẳng hạn chỉ trao đổi tâm tình hoặc tán ngẫu.

Trong giai đoạn ngoại hiện, tri thức tương tác ở cấp độ nhóm gồm nhiều cá thể. Tri thức ẩn được chia sẻ giữa các cá nhân ở giai đoạn trước sẽ được cố gắng biểu hiện ra bên ngoài thành các khái niệm rõ ràng hơn ở giai đoạn này tạo thành tri thức hiện. Tri thức ẩn khi được chia sẻ trong tập thể sẽ được ngôn ngữ hóa, hình ảnh, mô hình hóa hay các cách diễn đạt khác, từ đó nó bắt đầu trở nên rõ ràng hơn, và có thể được lưu lại. Ví dụ, khi người bán hàng giỏi truyền đạt các kinh nghiệm, anh/cô ta sẽ viết ra, sử dụng hình ảnh minh họa, diễn lại quá trình,… từ đó mà người nghe có thể ghi lại thành tài liệu nội bộ để lưu trữ, tham khảo lần sau. Để đạt được điều này, DN, tổ chức cần tạo nhóm làm việc với mục tiêu và phương thức rõ ràng. Trong giai đoạn này phép ẩn dụ hay được sử dụng để diễn đạt các tri thức ẩn. Chẳng hạn Toyota đã đưa ra khái niệm “Cậu bé kều” (Tall boy) khi muốn miêu tả dòng xe tiết kiệm năng lượng, nhỏ gọn nhưng lại phải đảm bảo được không gian rộng trong xe cho người sử dụng.

Giai đoạn kết hợp gồm các tương tác tri thức ở cấp độ tổ chức – là sự kết hợp các nhóm chức năng và nghiệp vụ khác nhau.  Tri thức hiện trong giai đoạn ngoại hóa sẽ được sắp xếp, kết hợp hoặc xử lý để hình thành một hệ thống tri thức hiện phức tạp và có hệ thống hơn. Tri thức hiện này sau đó được phổ biến rộng rãi hơn, đến các nhóm khác, toàn bộ tổ chức hoặc xa hơn là bất kỳ ai trong xã hội. Ví dụ: các tài liệu về kinh nghiệm bán hàng của những người bán hàng thành công có thể được đúc kết thành những quyển sách, cẩm nang về nghệ thuật bán hàng, về phương thức bán hàng, từ đó nó được xuất bản, lưu hành trong nội bộ hoặc phát hành rộng rãi[3]. Dựa trên các khái niệm đã được hình thành rõ ràng ở giai đoạn Ngoại hiện, trong giai đoạn này, DN sẽ sử dụng các nghiệp vụ và chức năng (mua sắm, sản xuất, marketing, bán hàng, quản lý…) hiện có để tạo mô hình sản xuất và tạo ra sản phẩm và dịch vụ cụ thể. Trong giai đoạn này tri thức hiện (các khái niệm) kết hợp với hệ thống tri thức hiện đã được tập hợp sẵn trong DN để tạo thành tri thức hiện khác – là sản pẩm dịch vụ tạo ra.

Giai đoạn Tiếp thu là giai đoạn trở về với cấp độ tri thức cá nhân. tri thức hiện được tạo ra và chia sẻ trong toàn tổ chức, sau đó nó sẽ được chuyển hóa thành tri thức ẩn theo cách tiếp thu của mỗi người. Ví dụ, thông qua các sách, cẩm nang về nghệ thuật bán hàng, một người bán hàng có thể linh hoạt sử dụng mộ số kiến thức, cộng với kinh nghiệm, trải nghiệm và hoàn cảnh của họ để tiếp tục phát triển một cách bán hàng mới hơn. Nói một cách khác, thông qua tiếp thu, tri thức ẩn của mỗi cá nhân được bổ sung và tích lỹ thêm. Sau đó, tri thức ẩn này lại tiếp tục được chia sẻ thông qua quá trình xã hội hóa, bắt đầu một quá trình SECI mới. Thông qua quá trình vừa làm vừa học, các cá nhân tiếp thu, biến tri thức hiện của tổ  chức thành tri thức ẩn của riêng mình để chuẩn bị cho một vòng xoắn tiếp theo với giai đoạn Xã hội hóa.

Một lưu ý về mô hình chuyển đổi tri thức của Nonaka và Takeuchi là vòng xoắc ốc kiến tạo tri thức có thể bắt đầu ở bất cứ giai đoạn nào trong bốn giai đoạn kể trên. Bởi xét cho cùng, hoạt động của một DN là những vòng tuần hoàn đi lên không có điểm đầu và điểm kết.

1.2.5 Môi trường thúc đẩy “Ba2”

Một yếu tố nữa của mô hình kiến tạo tri thức SECI là môi trường thúc đẩy quá trình kiến tạo tri thức Ba. Nói cách khác, việc tạo ra tri thức theo các giai đoạn tuần tự như trên không phải tự nhiên mà có được. Điều kiện đủ là DN tạo được một môi trường thúc đẩy các hoạt động kiến tạo tri thức ấy. Chính điều này giải thích tại sao các DN có tiềm năng tri thức như nhau lại có thể khác nhau ở kết quả hoạt động.

Hình 3.2 dưới đây diễn tả các thành phần môi trường thúc đẩy khác nhau trong DN, tương ứng với từng giai đoạn chuyển đổi tri thức SECI. Giai đoạn Xã hội hóa tương ứng với Môi trường Sáng tạo (Originating Ba). Điểm mấu chốt của Môi trường Sáng tạo là nuôi dưỡng, duy trì được tình yêu, sự tin tưởng của các cá nhân tham gia với DN và với nhau. Chỉ khi tin tưởng nhau hoàn toàn, cùng đồng thuận với nhau về ý nghĩa, tầm nhìn, triết lý của DN, các cá nhân mới có thể chia sẻ hết mình và nhờ thế, tri thức ẩn của người này mới trở thành tri thức ẩn của người khác một cách dễ dàng.

Giai đoạn Ngoại hiện đòi hỏi môi trường tương tác (Interacting Ba). Mục tiêu của môi trường này là trợ giúp sự trao đổi hợp tác tối đa, sử dụng lối ẩn dụ để chia sẻ tri thức ẩn. Giai đoạn Kết hợp tương ứng với không gian mạng (Cyber Ba) với đặc trưng là mạng lưới Intranet và Internet để kết hợp được các tri thức hiện sẵn có hiệu quả nhất nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới có sức hấp dẫn và tính kinh tế cao hơn trên thị trường. Cuối cùng, giai đoạn Tiếp thu tương ứng với Môi trường thực hành (Exercising Ba). Môi trường này phải được thiết kế tạo sự thoải mái nhất cho các cá nhân thành viên trong việc tự suy ngẫm, rèn luyện để có thể tiếp nhận các tri thức DN, chuyển tri thức bên ngoài DN thành tri thức của mỗi thành viên trong doanh nghiệp.

Hình 1: Tri thức ẩn và hiện

1.2.6 Ứng dụng mô hình SECI cho thực tế quản trị doanh nghiệp

Từ mô hình kiến tạo tri thức SECI của Nonaka và Takeuchi có thể rút ra những nhận định trong thực tế quản trị tri thức tại DN nhằm đạt tới hiệu quả hoạt động cao nhất. Có bảy lời khuyên được trình bày khá xúc tích trong cuốn sách của hai tác giả.

Thứ nhất xây dựng tầm nhìn tri thức của DN. Lợi ích của việc xác định rõ tầm nhìn tri thức của DN thể hiện ở hai khía cạnh. Một mặt tầm nhìn tri thức của DN giúp các thành viên hiểu ý nghĩa của công việc của mình nhờ đó có động lực làm việc. Mặt khác, tầm nhìn tri thức của doanh nghiệp cũng chỉ ra hướng phát triển của DN, theo đó các cá nhân có thể xác định dễ dàng định hướng của hoạt động kiến tạo tri thức trong tương lai. Theo Nonaka và Takeuchi, một tầm nhìn DN được xem là tốt nếu nó có tính gợi mở. Nói cách khác tầm nhìn không đóng khung cụ thể cho hoạt động của DN trong 2 năm, 5 năm hay 10 năm tới. Tầm nhìn chỉ phác thảo tương lai. Mỗi cá nhân dựa vào tầm nhìn của DN có thể “mơ mộng” hơn xưa, xây dựng tầm nhìn theo cách hiểu và ước vọng của bản thân mình.

Thứ hai xây dựng các nhóm đặc biệt kiến tạo tri thức. DN cần tuyển dụng nhóm giỏi và đa dạng bởi việc tạo tri thức xuất phát từ các cá nhân với các tri thức của họ. Nhóm kiến tạo tri thức phải đảm bảo được sự đa dạng cần thiết. Một cách để đạt tới điều đó là xây dựng các nhóm dự án tri thức dựa trên nguồn nhân lực thuộc các chức năng khác nhau với các kiến thức, nghiệp vụ khác nhau; tạo môi trường kích thích tương tác giữa các thành viên trong DN và giữa DN với thị trường bên ngoài.

Thứ ba xây dựng môi trường tương tác cao đảm bảo việc tương tác thường xuyên giữa các thành viên trong doanh nghiệp nhằm mục đích chia sẻ kinh nghiệm và tri thức. Đặc biệt lưu ý môi trường tương tác giữa các thành viên thuộc nhóm kiến tạo tri thức.

Thứ tư tập trung vào tạo sản phẩm mới. Có ba nguyên tắc DN cần tuân thủ trong việc tạo sản phẩm, dịch vụ mới: (1) DN duy trì phương pháp tiếp cận linh hoạt, thích ứng trong việc kiến tạo sản phẩm mới; (2) DN đảm bảo quyền tự chủ của nhóm kiến tạo tri thức liên quan đến sản phẩm mới và tạo “sóng” (fluctuations and creative chaos) để kích thích sự vận động không ngừng của nhóm; (3) DN khuyến khích sự tham gia của những người bình thường (không nhất thiết phải là chuyên gia) trong việc sáng tạo sản phẩm mới để khai thác mọi tiềm năng tri thức và kinh nghiệm của những người liên quan.

Thứ năm áp dụng cách quản trị lấy nhà quản trị cấp trung làm trung tâm (middle-up-down management). Trong DN, trong khi nhà quản trị cấp cao thường nghĩ tới tầm nhìn và mơ ước vươn tới của DN thì nhân viên làm trực tiếp lại có cái nhìn thực tế và do vậy không thể đồng thuận và tiếp nhận các quyết định của các nhà quản trị cấp cao một cách dễ dàng. Trong trường hợp ấy, nhà quản trị cấp trung sẽ làm cầu nối giữa hai nhóm này, giữa ước mơ và hiện thực. Quan điểm này khác với quan điểm của một số nước phương Tây coi các nhà quản trị cấp trung là dư thừa và “mầm bệnh” của DN.

Thứ sáu  cần tái cơ cấu DN theo cấu trúc DN mới, kết hợp giữa chức năng và các nhiệm vụ đặc biệt (hypertext organization). Ưu điểm của cấu trúc DN dạng này là mỗi cá nhân sẽ chỉ thực hiện một nhiệm vụ chính tại một thời điểm để đảm bảo công việc hoàn thành tốt, nhưng cùng lúc ấy anh ta có thể tương tác với các chức năng nghiệp vụ khác, vì vậy kiến thức được mở rộng, tạo điều kiện kiến tạo tri thức mới.

Thứ bảy DN cần chú ý xây dựng mạng lưới giữa DN và môi trường bên ngoài bao gồm khách hàng, nhà cung cấp, đối tác… Mạng lưới phải được xây dựng dựa trên sự thấu hiểu, kích thích các chủ thể của môi trường bên ngoài bộc lộ tri thức tiềm ẩn của họ. Đó là nguồn tài nguyên vô tận mà DN có thể khai thác, biến thành tri thức hiện, sử dụng nhằm gia tăng giá trị DN và đạt được mục tiêu của mình.

Quản trị tri thức vẫn còn mới mẻ đối với các DN, tổ chức của các nền kinh tế cho dù nội dung này đã có những bước phát triển vượt bậc về cả lý thuyết và thực hành trong hơn một thập kỷ qua. Tiếp cận quản trị theo quản trị tri thức một mặt không quá xa lạ với các hoạt động truyền thống; rất nhiều những bài học áp dụng theo quản trị tri thức trùng với những thực hành thực tiễn của hoạt động quản trị truyền thống. Mặt khác quản trị tri thức chỉ ra những góc mới mà các nhà quản trị cần lưu ý. Quan trọng hơn cả, quản trị tri thức thể hiện logic cốt lõi của hoạt động quản trị trong thời đại của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức hiện nay. Do vậy, chấp nhận QTTT là một trong những phương pháp, công cụ mà các tổ chức, doanh nghiệp có thể dễ dàng sử dụng trong kỷ nguyên CMCN 4.0 hiện nay.

Tại Việt Nam, quản trị tri thức gắn với đổi mới sáng tạo trong tái cơ cấu doanh nghiệp mới chỉ manh nha xuất hiện nhờ một số hoạt động lẻ tẻ, cá nhân. Nhưng các DN Việt Nam đang có cơ hội tốt để tiếp cận quản trị tri thức để phát triển và cạnh tranh hơn. Thứ nhất, đó là nhờ hiện đang có các mô hình quản trị tri thức đã được phát triển và ứng dụng tốt mà các DN Việt Nam có thể áp dụng, trong đó mô hình SECI là một điển hình. Thứ hai, nền tảng văn hóa và kinh doanh theo kiểu phương Đông có thể giúp Việt Nam dễ dàng tiếp cận và áp dụng mô hình SECI trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Nhật Bản đã có giai đoạn phát triển thần kỳ và hiện vẫn đang vững mạnh trong các nước đứng đầu thế giới về kinh tế nhờ những cố gắng đổi mới, cải tiến không ngừng của mình. Liệu Việt Nam chúng ta có thể đạt được những điều thần kỳ đó trong tương lai hay không, điều đó phần nào lệ thuộc vào việc các cơ quan, doanh nghiệp có năng động, sáng tạo trong áp dụng QTTT trong tổ chức và hoạt động như thế nào.

 

Tài liệu tham khảo

Nokata I. và Takeuchi H. (1995). The Knowldege Creating Company: How Japanese Companies Creat the Dynamics of Innovation, Oxford University Press: Oxford.

Phạm Anh Tuấn. Tác động của quản trị tri thức đối với đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp. Luận án tiến sỹ quản trị kinh doanh. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017.

Parker G. G., Alstyne M. W. Và Choudary S. P. Cuộc cách mạng nền tảng: Những phát triển đột phá về ứng dụng công nghệ và cách thức xây dựng mô hình kinh doanh mới. Hà Nội: Nxb. Công thương, 2017.

Viện Lãnh đạo và Quản lý. Nguyễn Khắc Hùng (CB). Kỹ năng quản lý, lãnh đạo (Tập 1&2). Nxb. ĐHQG Hà Nội (2015), Nxb. Hồng Đức (2017).

GS. TSKH. Vũ Đình Cự, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/sach-chinh-tri/books-310520153565356/index-

31052015347095644.htmlhttp://cafebiz.vn/quan-tri/quan-tri-tri-thuc-xu-huong-moi-viet-nam-nen-hoc-tu-nhat-ban-va-israel-201408251017199431.chn



[1] Tài liệu này là một phần trong Tập III, Bộ sách Kỹ năng Quản lý, Lãnh đạo do Viện LMI-MCaD biên soạn, sắp phát hành trong đầu năm 2019.

[2] Theo GS. TSKH. Vũ Đình Cự, http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/sach-chinh-tri/books-310520153565356/index-31052015347095644.html

[3] http://cafebiz.vn/quan-tri/quan-tri-tri-thuc-xu-huong-moi-viet-nam-nen-hoc-tu-nhat-ban-va-israel-201408251017199431.chn

Đối tác
Hỗ trợ trực tuyến

Điện thoại để được tư vấn tốt nhất

Dự án
  • Dự án JICA-ONA tăng cường năng lực cho Văn phòng Quốc hội

    Dự án JICA-ONA tăng cường năng lực cho Văn phòng Quốc hội

    Kể...

  • Dự án: Hỗ trợ “Chương trình Quản trị Công và Cải cách Hành chính (GOPA giai đoạn I & II, 2007 – 2014)
    Quản trị công và Cải cách hành chính (CCHC)” là chương trình do Chính...
  • Gói thầu: Khảo sát dữ liệu cơ bản cho Dự án JICA hỗ trợ tăng cường năng lực Văn phòng Quốc hội
    Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 9 năm 2017, JICA đã hỗ trợ thực hiện Dự án Tăng cường...
  • Dự án: Xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, vị trí việc làm cho tỉnh Bắc Giang
    Mục đích chung là thiết kế khung chương trình và xây dựng bộ tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cho...
  • Dự án: Xây dựng chương trình và bộ tài liệu bồi dưỡng công chức chuyên trách cải cách hành chính
    Mục đích chung là phát triển và chuyển giao chương trình và tài liệu bồi dưỡng chuyên sâu cho công...
  • Dự án: Biên soạn chương trình, tài liệu nghiệp vụ quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
    Mục đích chung của gói thầu là thiết kế, xây dựng chương trình, biên soạn nội dung tài liệu bồi...
  • Dự án rà soát hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
    Mục đích của dự án: Tổ chức rà soát đánh giá hiện trạng hệ thống cơ sở đào tạo, bồi...
  • Dự án xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra
    Mục đích của dự án: Tư vấn xây dựng chương trình và hệ thống các chuyên đề, báo cáo bổ trợ...
  • Dự án xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng
    Mục tiêu của dự án này là: Xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu giảng dạy, đảm bảo...
  • Dự án phát triển đào tạo năng lực cho công chức Thành phố Hồ Chí Minh
    Mục đích của dự án này nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực chính quyền Thành phố HCM trong xây...