27/05/2019 23:15:33 PM

KINH TẾ TRI THỨC, VỊ THẾ CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÔNG NHÂN TRI THỨC

(Lượt xem: 105)

KINH TẾ TRI THỨC, VỊ THẾ CỦA DOANH NGHIỆP

VÀ CÔNG NHÂN TRI THỨC[1]

TS. Nguyễn Khắc Hùng

Giới thiệu:

Nền kinh tế nước ta hiện nay càng ngày càng đi sâu theo hướng kinh tế tri thức, nhất là trong điều kiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0 hay kỷ nguyên công nghệ số). Tuy nhiên, hiện chưa có sự thống nhất về khái niệm, đặc trưng, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô và vi mô, hay nội hàm của các doanh nghiệp đi sâu vào tri thức và công nhân tri thức. Điều đó dẫn tới một số nhầm lẫn về mặt lý thuyết, có thể mang lại những thực tiễn không mong muốn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ của doanh nghiệp. Bài viết này phân tích thêm một cách nhìn về kinh tế tri thức và mối quan hệ/tác động hai chiều tới doanh nghiệp và công nhân tri thức, góp phần thúc đẩy hoạt động quản trị tri thức trong cộng đồng doanh nghiệp.

 

1.     Kinh tế tri thức

Khái niệm kinh tế tri thức manh nha xuất hiện từ đầu những năm 1960 của thế kỷ XX, tiên phong bởi Fritz Machlup và Peter Drucker. Trong hơn nửa thế kỷ qua, đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định và giải thích cơ chế của nền kinh tế này. Trong những năm qua kinh tế tri thức được chọn làm chiến lược phát triển của nhiều quốc gia, cả những nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên, kinh tế tri thức là khái niệm không dễ hiểu vì dựa trên hai khái niệm trừu tượng là kinh tế và tri thức, và do vậy đã được hiểu nhiều ít khác nhau. Nền kinh tế tri thức, còn gọi là kinh tế dựa vào tri thức (Knowledge – Based Economy) là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao. "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin" (OECD, 1996). "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó quá trình sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế" (APEC, 2000). Ngân hàng Thế giới (WB, 2000) đánh giá "Đối với các nền kinh tế tiên phong trong nền kinh tế Thế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri thức và các nguồn lực đang nghiêng về tri thức. Tri thức thực sự đã trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định mức sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả yếu tố lao động. Các nền kinh tế phát triển nhất về công nghệ ngày nay thực sự đã dựa vào tri thức". Còn theo Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh: Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà việc sản sinh ra và khai thác tri thức có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải. Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nền kinh tế tri thức có những đặc trưng cơ bản như: 1.Tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là vốn; 2. Trong nền kinh tế tri thức, cơ cấu sản xuất dựa ngày càng nhiều vào việc ứng dụng các thành tựu của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao; 3. Cơ cấu lao động trong kinh tế tri thức có những biến đổi như Lao động tri thức chiếm tỷ trọng cao (70-90%), nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa, sự sáng tạo, đổi mới, học tập trở thành nhu cầu thường xuyên đối với mọi người. ở đỉnh cao của nó, xã hội của nền kinh tế tri thức sẽ trở thành xã hội học tập; 4. Trong nền kinh tế tri thức, quyền sở hữu đối với tri thức trở nên quan trọng; 5. Mọi hoạt động của kinh tế tri thức đều liên quan đến vấn đề toàn cầu hóa. Bảng dưới đây so sánh một số đặc điểm của một số giai đoạn kinh tế.

Bảng 1: Đặc điểm một số giai đoạn kinh tế[2]

Tiêu chí

Giai đoạn Kinh tế sơ khai (Thiên về tự cung tự cấp)

Kinh tế công nghiệp

Kinh tế tri thức

Đầu vào của sản xuất

Lao độngđất đaivốn

Lao động, đất đai, vốn, công nghệthiết bị

Lao động, đất đai, vốn, công nghệ, thiết bị, tri thức, thông tin

Đầu ra của sản xuất

Lương thực

Của cải, hàng hóa, tiêu dùng, xí nghiệp, nền công nghiệp

Sản phẩm công nghiệp với công nghệ hiện đại, tri thức, vốn tri thức

Cơ cấu xã hội

Nông dân

Công nhân

Công nhân tri thức

Tỉ lệ đóng góp của khoa học – công nghệ

<10%

>30%

>80%

Đầu tư cho giáo dục

<1% GDP

2-4% GDP

8-10% GDP

Tầm quan trọng của giáo dục

Thấp

Cao

Rất cao

Trình độ văn hóa trung bình

Tỉ lệ mù chữ cao

 

Đa số sau trung học phổ thông

 

Một số chỉ tiêu thống kê phản ánh nền kinh tế tri thức bao gồm:

Các chỉ tiêu vĩ mô: 1. Chi nghiên cứu và triển khai các công trình khoa học vào thực tiễn so với tổng chi ngân sách nhà nước; 2. Chi cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao so với tổng chi cho giáo dục của toàn xã hội; 3. Tỷ lệ vốn đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin so với tổng vốn đầu tư; 4. Giá trị chuyển giao công nghệ so với tổng chi ngân sách nhà nước; 5. Tỷ lệ doanh thu của ngành công nghệ thông tin so với tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế; 6. Tỷ lệ doanh thu bán phần mềm so với tổng doanh thu của khu vực doanh nghiệp trong nền kinh tế; 7. Tỷ lệ giá trị tăng thêm của các ngành thông tin so với tổng sản phẩm trong nước; 8. Tỷ lệ của sản nghiệp tri thức so với tổng giá trị tài sản của nền kinh tế; 9. Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP); 10. Hệ số đổi mới tài sản cố định; 11. Nhân tử đầu ra của ngành văn hóa, du lịch văn hóa, du lịch tri thức đối với các ngành sản xuất vật chất và tiêu dùng của dân cư; 12. Hệ số liên hệ xuôi (Forward linkage), hệ số liên hệ ngược (Backward linkage) của ngành văn hóa, du lịch văn hóa, du lịch tri thức đối với các ngành sản xuất vật chất và tiêu dùng của dân cư; 13. Tỷ lệ lao động làm công tác thông tin so với tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế; 14. Tỷ lệ lao động trí óc so với lao động chân tay; 15. Số lượng các đơn vị khoa học công nghệ trong nền kinh tế.

Các chỉ tiêu vi mô: 16. Chi cho nghiên cứu và triển khai các công trình khoa học vào thực tiễn so với tổng vốn đầu tư của khu vực doanh nghiệp; 17. Tỷ lệ cán bộ làm nghiên cứu và triển khai công nghệ của khu vực doanh nghiệp so với tổng số lao động của khu vực doanh nghiệp; 18. Số máy tính dùng trong khu vực doanh nghiệp; 19. Tỷ lệ doanh nghiệp có Website và truy cập internet; 20. Tỷ lệ dân cư truy cập internet so với tổng dân số; 21. Tỷ lệ dân cư tham gia hoạt động thương mại điện tử so với tổng dân số; 22. Số điện thoại thuê bao tính cho 1000 dân; 23. Các chỉ tiêu về tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng thông tin trong đời sống hằng ngày của dân cư.

2. Doanh nghiệp đi sâu vào tri thức

Tương tự như khái niệm tri thức, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp đi sâu vào tri thức (Knowledge-Intensive Firms”[3]. Tuy nhiên, có một khái niệm khá dễ hiểu là “là các doanh nghiệp sử dụng kiến thức của con người để phát triển và kinh doanh các giải pháp phi vật chất cho khách hàng”. Các DN này thường có đặc điểm là có cơ sở kiến thức mang tính phân tích và dựa hẳn vào tri thức được mã hóa làm lợi thế cạnh tranh của mình.

Text Box: Hộp 1: Các doanh nghiệp công nghệ thông tin
Grimshaw và Miozzo (2009, do Hislop D. trích dẫn, 2013) đã nghiên cứu hai DN CNTT lớn và xem đó là các DN đi sâu vào tri thức do các dịch vụ/công việc của chúng là cung ứng và bảo dưỡng các hệ thống công nghệ có độ phức tạp cao cho khách hàng. Công việc này đòi hỏi phần lớn lực lượng lao động của DN phải có cả kiến thức chuyên môn và các kỹ năng chuyên sâu. Nhu cầu loại này tăng cao trong những năm qua do nhiều công ty lớn hợp đồng mảng dịch vụ này ra ngoài cho các DN chuyên ngành thay vì là tự lo. Mảng dịch vụ CNTT này thường bao hàm việc cử nhân viên tới DN khách hàng, những người không chỉ có kiến thức cụ thể về CNTT mà cả tri thức về các yêu cầu chuyên biệt rất khác nhau của từng khách hàng.
Có thể phân biệt ba đặc tính của các doanh nghiệp đi sâu vào tri thức là mức độ tri thức cao trong công việc mỗi DN, mức độ đầu tư, và trình độ chuyên sâu của đội ngũ lao động. Mức độ tri thức cao được xác định qua phạm vi sử dụng và phát triển tri thức phức tạp nhằm tạo ra các sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ). Mức độ đầu tư, thường không cao, do các sản phẩm của các doanh nghiệp đi sâu vào tri thức ít lệ thuộc vào tài sản ngoài con người như nhà máy, trang thiết bị hay bản quyền v.v. Còn trình độ chuyên sâu của đội ngũ lao động không chỉ là tri thức chuyên môn, mà tri thức đó phải được điều tiết (qua đơn vị chuyên trách hay hiệp hội), với luật ứng xử chỉ đạo hành vi nhân sự (xem ứng dụng phân loại này tại bảng dưới đây).

Bảng 2: Phân loại các doanh nghiệp đi sâu vào tri thức theo Von Nordenflyncht’s 2010.

Loại hình DN

Tri thức chuyên sâu

Đầu tư thấp

Lực lượng lao động chuyên môn hóa

Ví dụ

Phát triển công nghệ

X

 

 

Các DN công nghệ sinh học và Phòng thí nghiệm R&D

Các DN dịch vụ kiểu mới

X

X

 

Các cơ quan tư vấn và quảng cáo

Các chi nhánh chuyên môn

X

 

X

Các bệnh viện

Các DN dịch vụ kiểu cổ điển

X

X

X

Các kế toán viên và thiết kế viên

 

3. Công nhân tri thức

Công nhân tri thức (knowledge worker) «trước hết là người có trí thức, sáng tạo, và không theo thói quen, bao gồm cả việc sử dụng và tạo nên tri thức trìu tượng/lý thuyết»[4]. Nghĩa là công nhân có trình độ văn hóa nhất định, có trình chuyên môn nhất định được đào tạo qua trường lớp đàng hoàng, chứ không phải "sống lâu lên lão làng" (có nghĩa làm riết rồi giỏi).

Khái niệm này khá mơ hồ, song có thể chi tiết hóa theo ba phương diện. Thứ nhất là tính sáng tạo, nghĩa là giải quyết vấn đề cốt lõi, bao hàm tạo ra sản phẩm có độ sáng tạo và độ khó từ thấp đến cao. Như vậy, thiết kế phần mềm được xem là có độ sáng tạo cao do các lập trình viên thiết kế và sản xuất phần mềm để đáp ứng theo các yêu cầu cụ thể và đa dạng của các khách hàng. Thứ hai là loại hình tri thức lý thuyết hay theo hoàn cảnh chủ yếu được sử dụng trong công việc. Tri thức lý thuyết là các khái niệm và nguyên tắc được mã hóa, có mức độ phù hợp chung, còn lý thuyết theo hoàn cảnh là ẩn và không mang tính ứng dụng chung, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Thứ ba là các kỹ năng, bao gồm các kỹ năng tư duy, kỹ năng xã hội và kỹ năng hành động. Kỹ năng hành động là thực việc, kỹ năng xã hội là khả năng tạo động lực và quản lý người khác, còn kỹ năng tư duy là khả năng lập luận trìu tượng và tổng hợp các ý tưởng khác nhau (xem bảng dưới đây).

Bảng 3: Ba phương diện công việc

Phương diện

Đặc tính

Sáng tạo

Đo lường theo mức độ từ thấp đến cao

Loại hình tri thức chủ yếu được sử dụng

Đặc trưng cho công việc bao hàm hai hình thức tri thức

1. Tri thức theo hoàn cảnh

2. Tri thức lý thuyết

Loại kỹ năng

Đặc trưng cho công việc bao hàm ba loại kỹ năng

1. Kỹ năng trí tuệ

2. Kỹ năng xã hội

3. Kỹ năng hành động

Nguồn: Frenkel và ctg., 1995.

Các khái niệm và phân loại trên đây dẫn tới xu hướng chung nhằm phát triển nền kinh tế tri thức là mọi công việc đều bao hàm tri thức (knowledge work’ perspective). Bản chất của hiện tượng này là cần chú trọng tới cả tri thức khoa học trìu tượng và được mã hóa, lẫn tri thức ẩn và tri thức theo hoàn cảnh. Hơn nữa, cần phát triển cả các loại kỹ năng cần thiết cho các công nhân trong thời đại hiện nay. Như vậy, quản trị tri thức có thể xem là chìa khóa để mở ra tiềm năng của chuỗi công việc với nhiều mắt xích kết nối logic này.

 

Tài liệu tham khảo:

Frenkel và ctg., Knowledge Economy. Havard University Press: 1995.

Hislop, D. (2013), Knowledge Management in Organisations: a Critical Introduction, Oxford University Press, p: 69 (Bản tiếng Anh).

Từ điển Wikipedia online.

Viện LMI-MCaD. Kỹ năng quản lý, lãnh đạo (Tập III: Quản trị tri thức trong Kỷ nguyên CMCN 4.0). Hà Nội: Nxb. Hồng Đức, 2019.



[1] Bài viết này là một phần trong Tập III bộ sách Kỹ năng quản lý, lãnh đạo của Viện LMI-MCaD về Quản trị tri thức trong Kỷ nguyên Cách mạng Công nghiệp 4.0. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức, 2019.

[2] Nguồn: Từ điển Wikipedia online

[3] Xem thêm Hislop, D. (2013), Knowledge Management in Organisations: a Critical Introduction, Oxford University Press, p: 69 (Bản tiếng Anh).

[4] Hislop D (Sđd, tr: 71).

Đối tác
Hỗ trợ trực tuyến

Điện thoại để được tư vấn tốt nhất

Dự án
  • Dự án JICA-ONA tăng cường năng lực cho Văn phòng Quốc hội

    Dự án JICA-ONA tăng cường năng lực cho Văn phòng Quốc hội

    Kể...

  • Dự án: Hỗ trợ “Chương trình Quản trị Công và Cải cách Hành chính (GOPA giai đoạn I & II, 2007 – 2014)
    Quản trị công và Cải cách hành chính (CCHC)” là chương trình do Chính...
  • Gói thầu: Khảo sát dữ liệu cơ bản cho Dự án JICA hỗ trợ tăng cường năng lực Văn phòng Quốc hội
    Từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 9 năm 2017, JICA đã hỗ trợ thực hiện Dự án Tăng cường...
  • Dự án: Xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, vị trí việc làm cho tỉnh Bắc Giang
    Mục đích chung là thiết kế khung chương trình và xây dựng bộ tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cho...
  • Dự án: Xây dựng chương trình và bộ tài liệu bồi dưỡng công chức chuyên trách cải cách hành chính
    Mục đích chung là phát triển và chuyển giao chương trình và tài liệu bồi dưỡng chuyên sâu cho công...
  • Dự án: Biên soạn chương trình, tài liệu nghiệp vụ quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
    Mục đích chung của gói thầu là thiết kế, xây dựng chương trình, biên soạn nội dung tài liệu bồi...
  • Dự án rà soát hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
    Mục đích của dự án: Tổ chức rà soát đánh giá hiện trạng hệ thống cơ sở đào tạo, bồi...
  • Dự án xây dựng chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra
    Mục đích của dự án: Tư vấn xây dựng chương trình và hệ thống các chuyên đề, báo cáo bổ trợ...
  • Dự án xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng
    Mục tiêu của dự án này là: Xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu giảng dạy, đảm bảo...
  • Dự án phát triển đào tạo năng lực cho công chức Thành phố Hồ Chí Minh
    Mục đích của dự án này nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực chính quyền Thành phố HCM trong xây...